1. Tóm tắt
- TT 50/2026 thay thế TT 22/2019 và có hiệu lực từ 01/12/2026. Khung LCR, NSFR và LDR mới (trần 95%) bắt buộc từ 01/10/2028. LCR tăng dần từ 50% lên 100% vào 01/10/2033; NSFR từ 90% lên 100% vào 01/10/2030. Ngân hàng được đăng ký áp dụng sớm, sớm nhất từ 01/01/2027.
- Quan điểm của FinSuccess: thông tư chuyển cách giám sát thanh khoản từ kỳ hạn hợp đồng sang chất lượng tài sản và độ ổn định của nguồn vốn. Tăng trưởng tín dụng từ nay phải dựa trên vốn thật của dân cư và doanh nghiệp, thay cho vốn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau. Thông tư không thắt đều tay: nới với ngân hàng bán lẻ có vốn dày, thắt với ngân hàng dựa vào vốn liên ngân hàng và các hình thức cấp tín dụng ngoài cho vay.
- Các điểm nới so với TT 22/2019: trần LDR tăng từ 85% lên 95%; vốn chủ sở hữu và vị thế vay ròng liên ngân hàng được tính vào mẫu số LDR; tiền gửi cá nhân chỉ bị tính rút 5–10% trong LCR và được coi là 90–95% ổn định trong NSFR (cách cũ 40%); cho vay dài hạn chỉ cần 65–85% vốn ổn định (cách cũ 100%); ngân hàng đạt 100% cả LCR và NSFR được miễn LDR.
- Các điểm thắt so với TT 22/2019: tiền gửi của TCTD khác bị loại khỏi mẫu số LDR; đầu tư trái phiếu doanh nghiệp bị trừ khỏi mẫu số; tiền gửi liên ngân hàng và vàng không còn là tài sản thanh khoản; vốn từ tổ chức tài chính bị tính rút 100% trong LCR và tính 0% trong NSFR nếu dưới 6 tháng; cho vay ngắn hạn lần đầu phải có 50% vốn ổn định; tổng mức dư nợ cấp tín dụng tính thêm mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ L/C và mua bán nợ.
- Bên nào nặng hơn, theo số liệu 27 ngân hàng niêm yết tại 30/06/2026. Với LDR, hai chiều gần cân nhau ở cấp toàn nhóm: LDR theo cách mới ước 86–97% so với trần 95%, kịch bản trung tâm khoảng 90–91%. Với LCR, điểm thắt nặng hơn: 3.691 nghìn tỷ gửi và cho vay TCTD khác (16% tổng tài sản) không còn là tài sản thanh khoản, trong khi tài sản cấp 1 chỉ bằng 6,5% tổng tài sản. Với NSFR, điểm nới lớn hơn cho ngân hàng có nền tiền gửi cá nhân. Tác động chính là phân hóa giữa các ngân hàng chứ không phải thắt hay nới đồng loạt.
- Ai hưởng lợi: ngân hàng có nền tiền gửi cá nhân lớn, vốn chủ sở hữu dày và nhiều tài sản cấp 1. Ngoài ngân hàng là công ty chứng khoán có mảng tư vấn phát hành trái phiếu, tổ chức xếp hạng tín nhiệm và doanh nghiệp phát hành có tín nhiệm cao (mục 8).
- Ai chịu áp lực: ngân hàng có trên 30% nguồn vốn từ TCTD khác, ngân hàng có tài sản cấp 1 mỏng, ngân hàng giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp chưa xếp hạng và ngân hàng có thu nhập lớn từ tài trợ thương mại hạch toán dưới dạng phí.
- Tỷ lệ đòn bẩy (LEV) lần đầu được đưa vào thông tư (LEV = Vốn cấp 1 / Tổng trạng thái rủi ro, Điều 8). Tỷ lệ này chỉ áp dụng khi Thống đốc NHNN quyết định; ngoài thời gian đó ngân hàng quản lý theo quy định nội bộ.
- Công bố thông tin: ngân hàng phải công bố các tỷ lệ thanh khoản tối thiểu 6 tháng một lần, chậm nhất 75 ngày sau kỳ bán niên và 120 ngày sau năm tài chính (Điều 27). TT 22/2019 không có yêu cầu này.
- Liên hệ với an toàn vốn: ngân hàng được chấp thuận phương pháp xếp hạng nội bộ theo TT 14/2025 trước 01/07/2033 phải đạt 100% cả LCR và NSFR trong 90 ngày kể từ ngày được chấp thuận.
- Điểm nghẽn khi cân ba tỷ lệ: LDR coi mọi đồng tiền gửi của tổ chức như nhau, còn LCR và NSFR phân biệt mạnh theo người gửi. Với ngân hàng dựa vào tiền gửi doanh nghiệp và tổ chức tài chính, LCR sẽ là ràng buộc chặn trước, không phải LDR (mục 7).
2. Lộ trình: hai năm lựa chọn trước khi LCR và NSFR thành bắt buộc
NHẬN ĐỊNH CHÍNH
- Ngân hàng có gần hai năm (01/12/2026 đến 30/09/2028) để lựa chọn giữa giữ quy định cũ và đăng ký áp dụng sớm LCR, NSFR. Từ 01/10/2028 mọi ngân hàng phải áp dụng; LCR đạt 100% vào 01/10/2033.
- Có ba lộ trình: (1) bắt buộc, không đăng ký gì; (2) đăng ký sớm theo thang ngưỡng tăng dần; (3) đăng ký sớm ngưỡng 100% cho cả hai tỷ lệ.
- Điểm nới: lộ trình LCR kéo dài 5 năm với ngưỡng khởi điểm 50%. Ngân hàng đăng ký sớm ngưỡng 100% được miễn LDR ngay, sớm nhất từ 01/01/2027; đây là cách duy nhất để thoát trần LDR trước năm 2033.
- Điểm thắt: ngân hàng không đăng ký sớm ngưỡng 100% sẽ chịu cùng lúc LDR mới, LCR và NSFR từ 01/10/2028 đến 30/09/2033. Trước khi đăng ký sớm, ngân hàng phải đạt ngưỡng tại ba ngày cuối tháng liên tiếp và trong thời gian đó vẫn tuân thủ quy định cũ.
Có lợi thế là ngân hàng đã đo lường LCR và NSFR nội bộ theo Basel III và có nền tiền gửi cá nhân lớn sẽ đủ điều kiện đăng ký sớm, qua đó có thêm dư địa cho vay so với nhóm còn bị trần LDR. Muốn đi đường này ngân hàng phải thay đổi cơ cấu huy động vốn (mục 7).
Mỗi ngân hàng đi theo một trong ba lộ trình. Lộ trình quyết định thời điểm ngân hàng chuyển sang LDR mới (tối đa 95%) và thời điểm được bỏ hẳn trần LDR.
1. Lộ trình bắt buộc. Ngân hàng không đăng ký gì thì giữ nguyên quy định cũ (LDR tối đa 85% và ba tỷ lệ thanh khoản của TT 22/2019) đến hết 30/09/2028. Từ 01/10/2028 phải áp dụng LCR 50% và NSFR 90%, tăng dần mỗi năm, đồng thời chuyển sang LDR mới 95%. Đến 01/10/2033 LCR đạt 100% và ngân hàng không còn phải tuân thủ LDR.
2. Đăng ký sớm theo lộ trình. Ngân hàng tự nguyện vào thang ngưỡng sớm hơn (hạn đăng ký trước 01/01/2028). Thang vẫn là LCR 50% lên 100% trong 5 năm và NSFR 90% lên 100% trong 2 năm, nhưng đồng hồ chạy từ ngày ngân hàng bắt đầu. Đổi lại, ngân hàng được dùng ngay LDR mới 95% thay cho 85% và bỏ trần LDR sớm hơn; sớm nhất là 01/01/2032.
3. Đăng ký ngưỡng 100%. Ngân hàng cam kết ngay LCR và NSFR từ 100% (hạn đăng ký trước 01/01/2033). Từ ngày áp dụng, ngân hàng không phải tuân thủ LDR (chỉ báo cáo) và không còn phải theo dõi ba tỷ lệ cũ; sớm nhất là 01/01/2027.
Nhận định: giai đoạn chịu đồng thời ba tỷ lệ. Ở lộ trình 1 và 2, từ ngày áp dụng cho tới khi LCR đạt 100%, ngân hàng phải tuân thủ cùng lúc LCR, NSFR và LDR mới 95%, kéo dài 5 năm. Ngân hàng tránh được hoàn toàn nếu đăng ký ngưỡng 100% để áp dụng không muộn hơn 01/10/2028 (kịch bản 3b): gửi văn bản chậm nhất trong tháng 9/2028, với ba ngày chốt đánh giá 30/06, 31/07 và 31/08/2028. Đổi lại, ngân hàng phải đạt ngay LCR và NSFR từ 100% thay vì 50% và 90% của năm đầu lộ trình bắt buộc. Chúng tôi cho rằng nhóm ngân hàng lớn có nền tiền gửi dân cư mạnh sẽ chọn hướng này.

Hai lộ trình đăng ký sớm được vẽ theo kịch bản sớm nhất có thể; đăng ký muộn hơn thì toàn bộ lộ trình dịch sang phải tương ứng. Nguồn: Điều 12, 13, 16, 22 TT 50/2026/TT-NHNN, FinSuccess tổng hợp.
2.1. Tóm tắt các lộ trình

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
2.2. Ba tháng đánh giá trước khi đăng ký sớm
- Văn bản đăng ký phải kèm báo cáo đánh giá của HĐQT/HĐTV và của tổ chức kiểm toán độc lập, xác nhận ngân hàng đã tuân thủ đầy đủ, kể cả ngưỡng đăng ký (điểm c khoản 2 Điều 13).
- Thời điểm đánh giá là ngày cuối cùng của mỗi tháng trong ba tháng liền kề trước ngày gửi văn bản đăng ký. Đăng ký trong tháng 12/2026 thì ba ngày chốt là 30/09, 31/10 và 30/11/2026.
- Trong ba tháng này ngân hàng chưa được hưởng cơ chế mới: vẫn phải tuân thủ LDR cũ 85% và ba tỷ lệ thanh khoản cũ.
- Ngưỡng đăng ký có hiệu lực từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng gửi văn bản. Thông tư không quy định bước NHNN chấp thuận.
- Ngân hàng được chấp thuận phương pháp xếp hạng nội bộ theo TT 14/2025 trước 01/07/2033 phải đạt ngưỡng 100% cả hai tỷ lệ trong tối đa 90 ngày kể từ ngày được chấp thuận.
3. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng: các kênh cấp tín dụng dưới dạng thu phí bị đưa vào giới hạn
NHẬN ĐỊNH CHÍNH
- Tổng mức dư nợ cấp tín dụng là con số dùng để kiểm tra giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng và nhóm khách hàng liên quan theo Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng. Con số này khác với L trong LDR và khác với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.
- Điểm thắt: từ 01/12/2026, mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ L/C, tiền mua nợ đã thanh toán và tiền bán nợ chưa thu đủ đều được tính vào tổng mức dư nợ. Các kênh cấp tín dụng đang hạch toán dưới dạng thu phí bị đưa vào giới hạn.
- Điểm nới: cam kết ngoại bảng có thể hủy ngang vô điều kiện được loại khỏi phép tính.
- Xét theo số liệu, điểm thắt nặng hơn. Giới hạn theo Luật đang giảm về 10% vốn tự có cho một khách hàng và 15% cho nhóm khách hàng liên quan từ năm 2029, nên phần được tính thêm làm giới hạn chặt hơn đúng lúc trần đang hạ. Báo cáo tài chính không tách quy mô các khoản này nên chưa lượng hóa được tác động.
Chịu tác động là ngân hàng có thu nhập phí tài trợ thương mại lớn và ngân hàng có nhóm khách hàng lớn đang ở sát giới hạn. FinSuccess cho rằng đây cũng là bước chuẩn bị để tính các khoản này vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.
Trong năm qua nhiều ngân hàng đã chuyển một số dịch vụ mang tính chất cấp tín dụng sang ghi nhận thu nhập phí, đặc biệt trong tài trợ thương mại thông qua mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ L/C. Theo TT 50, những khoản này phải được tính vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng từ 01/12/2026. FinSuccess cho rằng đây là bước để đưa các kênh này vào room tín dụng; thông tư mới quy định trực tiếp việc tính vào giới hạn cấp tín dụng theo khách hàng, còn cách tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng phụ thuộc hướng dẫn của NHNN. Với nhu cầu vốn vượt giới hạn, ngân hàng vẫn có thể cấp tín dụng cho các dự án trọng điểm theo cơ chế Thủ tướng Chính phủ chấp thuận (khoản 7 Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng).
Khoản mua hẳn miễn truy đòi được tính là dư nợ đối với ngân hàng phát hành hoặc xác nhận L/C, không phải đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Phần đã phát sinh trước 01/12/2026 mà làm vượt giới hạn không bị coi là vi phạm, nhưng ngân hàng bị hạn chế cấp tín dụng mới cho nhóm khách hàng đó cho tới khi tuân thủ lại (Điều 30).
Dùng để xác định giới hạn cấp tín dụng theo Điều 135, 136 Luật Các tổ chức tín dụng. TT 22/2019: khoản 12 Điều 3 (sửa bởi TT 09/2024). TT 50/2026: khoản 3 Điều 9.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
4. LDR: trần cao hơn nhưng ngân hàng phải huy động vốn thực chất
NHẬN ĐỊNH CHÍNH
- LDR mới đo dư nợ cho vay so với phần vốn thật còn lại sau khi ngân hàng đã tài trợ các hình thức cấp tín dụng khác. Vốn vay mượn giữa các ngân hàng không còn làm đẹp được tỷ lệ.
- Điểm nới: trần tăng từ 85% lên 95%; vốn chủ sở hữu trừ tài sản cố định được cộng vào D (khoảng 1.825 nghìn tỷ tại 27 ngân hàng niêm yết); vị thế vay ròng liên ngân hàng được cộng (526 nghìn tỷ); vốn vay nước ngoài chuyển từ giảm tử số sang cộng mẫu số.
- Điểm thắt: tiền gửi của TCTD khác bị loại (3.025 nghìn tỷ); trái phiếu thường do ngân hàng phát hành không còn được tính (khoảng 563 nghìn tỷ); đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (230 nghìn tỷ) và cấp tín dụng không phải cho vay bị trừ khỏi D; chứng chỉ tiền gửi mua chéo giữa các ngân hàng bị loại.
- Xét theo số liệu, mẫu số D giảm 4–14%, nhưng trần cao hơn bù lại. Theo cách cũ LDR toàn nhóm khoảng 83% so với trần 85%, dư địa cho vay khoảng 320 nghìn tỷ. Theo cách mới, nếu toàn bộ chứng chỉ tiền gửi (khoảng 1.380 nghìn tỷ) được tính, LDR khoảng 90–91% so với trần 95%, dư địa khoảng 700–950 nghìn tỷ. Nếu phần lớn chứng chỉ tiền gửi do TCTD khác nắm giữ và bị loại, LDR lên tới 97% và vượt trần. Ở cấp toàn nhóm điểm nới nhỉnh hơn; tác động chính là phân phối lại dư địa giữa các ngân hàng.
Có lợi là ngân hàng có vốn chủ sở hữu dày như Techcombank và VPBank (vốn chủ sở hữu bằng 15% và 13% tổng tài sản) và ngân hàng vay ròng trên thị trường liên ngân hàng. Chịu áp lực là ngân hàng dựa nhiều vào tiền gửi của TCTD khác, phát hành nhiều trái phiếu thường hoặc giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp.
Công thức chung của cả hai thông tư: LDR = L / D × 100%. Khác biệt nằm ở nội dung của L, của D và ở mức trần.
4.1. Khung quy định

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
4.2. Tử số L: tổng dư nợ cho vay
Thay đổi đáng chú ý nhất ở tử số là nguồn vốn vay nước ngoài (offshore), vốn rất phổ biến trong giai đoạn vừa qua: thay vì được trừ khỏi L thì nay được cộng vào D. Khi LDR dưới 100%, L nhỏ hơn D, nên cộng một khoản vào mẫu số làm tỷ lệ giảm ít hơn so với trừ chính khoản đó khỏi tử số. Nói cách khác, riêng thay đổi này làm LDR tăng nhẹ so với cách tính trước đây.
Cho vay TCTD khác trong nước vẫn không bị tính vào L. Tuy nhiên ở mẫu số, khoản cho vay và gửi tiền tại TCTD khác được đem bù trừ với phần vay và nhận tiền gửi từ TCTD khác, nên cho vay liên ngân hàng gián tiếp làm giảm D và tăng LDR với ngân hàng đang là bên vay ròng.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
4.3. Mẫu số D: tổng tiền gửi
Đây là phần thay đổi lớn nhất. Ở TT 22/2019, D là tiền gửi và giấy tờ có giá phát hành. Ở TT 50/2026, D gần với toàn bộ nguồn vốn khả dụng để cho vay, sau khi loại các khoản ngân hàng cho nhau vay trên cả thị trường 1 và thị trường 2. Khả năng các ngân hàng xử lý tỷ lệ với nhau để cải thiện LDR vì vậy giảm đáng kể, dù không bị cấm.
Vị thế liên ngân hàng được tính theo công thức: số lớn hơn giữa 0 và (vay, nhận tiền gửi từ TCTD khác trừ cho vay, gửi tiền tại TCTD khác). Cho vay liên ngân hàng dù không tính vào L vẫn làm tăng LDR do giảm D.
Nguồn vốn thị trường 1 phải là tiền thật của dân cư và tổ chức kinh tế. Tiền gửi và giấy tờ có giá do TCTD khác nắm giữ không còn được tính, hạn chế tình trạng các ngân hàng gửi tiền lẫn nhau để làm tăng D một cách không tự nhiên (chi tiết ở mục 4.4).
Đầu tư trái phiếu doanh nghiệp cũng làm giảm D. Ảnh hưởng nhẹ hơn một chút so với việc cộng thẳng trái phiếu vào L, nhưng vẫn làm LDR tăng; đây là lần đầu tiên trái phiếu doanh nghiệp tác động tới LDR.
Điểm nới lỏng lớn nhất là được tính vốn chủ sở hữu vào D. Tuy nhiên theo dữ liệu FinSuccess tổng hợp, số dư gửi tiền và cho vay TCTD khác của 27 ngân hàng niêm yết tại 30/06/2026 là khoảng 3.691 nghìn tỷ đồng, gần gấp đôi tổng vốn chủ sở hữu (1.932 nghìn tỷ). Quy mô hoạt động liên ngân hàng lớn như vậy khiến các điểm thắt chặt lấn át phần nới lỏng (ước tính ở mục 4.6).
Ai được lợi, ai bất lợi: ngân hàng vốn chủ sở hữu dày, có vay nước ngoài và ít trái phiếu doanh nghiệp được lợi. Ngân hàng dựa nhiều vào tiền gửi liên ngân hàng và trái phiếu thường, hoặc nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp, bị bất lợi.


Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
4.4. Chứng chỉ tiền gửi mua chéo giữa các ngân hàng
TT 50 không cấm ngân hàng mua chứng chỉ tiền gửi của nhau, nhưng làm cho việc mua chéo không còn tác dụng hạ LDR.
Kẽ hở còn lại: đi vòng qua tổ chức tài chính không phải TCTD vẫn làm tăng D. LCR và NSFR chặn một phần (tiền gửi của tổ chức tài chính bị tính rút 100% trong LCR; hệ số ASF bằng 0% nếu kỳ hạn dưới 6 tháng), nhưng ngân hàng chưa áp dụng LCR/NSFR trong giai đoạn 2026–2028 thì chưa chịu lớp chắn này.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
4.5. Lịch sử quy định về tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước trong D
Theo TT 25/2026 đang áp dụng và TT 50/2026, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính 20% vào mẫu số D (loại 80%). Văn bản cho phép Thống đốc NHNN quyết định một tỷ lệ khác trong từng thời kỳ, nên 20% không phải mức sàn và cũng không có lộ trình giảm định sẵn.
Tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc bị loại toàn bộ ở mọi giai đoạn. Quy tắc 80% chỉ áp dụng cho LDR; ở tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tiền gửi Kho bạc bị loại toàn bộ.

4.6. Ước tính tác động lên mẫu số D của các ngân hàng niêm yết
Chúng tôi ước tính thô mẫu số D của 27 ngân hàng niêm yết theo số liệu hợp nhất tại 30/06/2026. Theo cách cũ, D khoảng 18.519 nghìn tỷ đồng (tiền gửi khách hàng, tiền gửi của TCTD khác và giấy tờ có giá). Sang cách mới, D mất khoảng 3.025 nghìn tỷ tiền gửi của TCTD khác, được cộng lại 526 nghìn tỷ vị thế vay ròng liên ngân hàng và 1.825 nghìn tỷ vốn chủ sở hữu sau khi trừ tài sản cố định.
- D theo cách tính cũ (TT 22) gồm ba phần: tiền gửi của khách hàng 13.503 nghìn tỷ (73%), tiền gửi của TCTD khác 3.025 nghìn tỷ (16%) và giấy tờ có giá phát hành 1.991 nghìn tỷ (11%). Hơn một phần tư mẫu số cũ đến từ nguồn vốn không phải tiền gửi của dân cư và doanh nghiệp.
- Mẫu số D giảm, nhưng trần cao hơn bù lại. Riêng ba thay đổi đầu làm D giảm ròng khoảng 675 nghìn tỷ. Thuyết minh cho thấy trong 1.991 nghìn tỷ giấy tờ có giá có khoảng 1.380 nghìn tỷ là chứng chỉ tiền gửi (được coi là tiền gửi) và khoảng 563 nghìn tỷ là trái phiếu (chỉ được tính nếu là Vốn cấp 2 hoặc phát hành ra quốc tế).
- LDR toàn nhóm theo cách mới ước 86–97%, so với trần 95%; kịch bản trung tâm khoảng 90–91%. Kịch bản trung tâm giả định toàn bộ chứng chỉ tiền gửi được tính và trái phiếu không được tính; khi đó dư địa cho vay khoảng 700–950 nghìn tỷ, so với khoảng 320 nghìn tỷ theo cách cũ (LDR 83% so với trần 85%). Cận trên 97% ứng với trường hợp toàn bộ giấy tờ có giá bị loại.
- Chỉ 17 trên 27 ngân hàng là bên vay ròng liên ngân hàng và được cộng phần này vào D. Nhóm cho vay ròng, gồm ba ngân hàng quốc doanh, không được cộng gì từ hoạt động liên ngân hàng.

Cột gạch chéo là phần giấy tờ có giá chưa tách được: chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu Vốn cấp 2 vẫn được tính vào D, trái phiếu thường thì không. Nguồn: WiData, báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026, FinSuccess ước tính.
- Bên vay ròng lớn nhất là VPBank (149 nghìn tỷ), MB (111) và Techcombank (79); phần này được cộng vào D và giúp giảm LDR của các ngân hàng đó.
- Bên cho vay ròng lớn nhất là Vietcombank (215 nghìn tỷ), BIDV (86) và VietinBank (81). Nhóm này không được cộng gì nhưng cũng không bị trừ; tác động với họ nằm ở LCR, nơi tiền gửi tại TCTD khác không còn là tài sản thanh khoản mà chỉ được tính ở dòng tiền vào khi đến hạn trong 30 ngày.

Nguồn: WiData, báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026, FinSuccess tính toán.
Lưu ý về ước tính: số liệu hợp nhất chưa tách được vốn vay nước ngoài (được cộng vào D), phần gửi và vay với tổ chức tín dụng ở nước ngoài (không thuộc phép bù trừ), góp vốn mua cổ phần, và các khoản phải trừ khỏi D. Kết quả chỉ nên đọc như bậc độ lớn.
5. LCR: thanh khoản phải là tài sản bán được ngay, nguồn vốn được chấm theo người gửi
NHẬN ĐỊNH CHÍNH
- LCR hỏi ngân hàng có đủ tài sản bán được ngay để chi trả trong 30 ngày căng thẳng hay không. Ngưỡng tối thiểu tăng từ 50% (cách cũ, với VND) lên 100% vào năm 2033.
- Điểm nới: tiền gửi cá nhân chỉ bị tính rút 5–10%, tổ chức kinh tế 25–40%, trong khi cách cũ tính gần như toàn bộ phần đến hạn trong 30 ngày; hạn mức tín dụng chưa sử dụng chỉ tính 5–40%; trái phiếu doanh nghiệp có xếp hạng, cổ phiếu VN30 và chứng khoán bảo đảm bằng khoản vay mua nhà lần đầu được tính là tài sản thanh khoản.
- Điểm thắt: tiền gửi tại TCTD khác và vàng bị loại khỏi tử số; dòng tiền vào chỉ được bù tối đa 75% dòng ra và nợ vay đến hạn chỉ được tính 50%; vốn của tổ chức tài chính bị tính rút 100%; tiền gửi có kỳ hạn mà khách được rút trước hạn phải đưa vào tính.
- Xét theo số liệu, điểm thắt nặng hơn ở cấp toàn nhóm. Tài sản cấp 1 của 27 ngân hàng chỉ khoảng 1.472 nghìn tỷ (6,5% tổng tài sản); nếu tính cả 3.691 nghìn tỷ gửi và cho vay TCTD khác như cách nhìn cũ thì khoảng 23%, tức tử số hẹp lại khoảng 70%. Phần nới ở mẫu số chỉ phát huy đầy đủ với tiền gửi cá nhân, nhóm chiếm khoảng 50% nguồn vốn huy động tại 22 ngân hàng có số liệu. Lộ trình 5 năm với ngưỡng khởi điểm 50% là yếu tố làm dịu.
- Có lợi là ngân hàng có trên 65% nguồn vốn từ cá nhân (NCB, BacABank, KienlongBank, VietABank, Sacombank, BVBank) và ngân hàng giữ nhiều tài sản cấp 1 so với tổng tài sản (MSB 15%, NamABank 12%, Techcombank 11%).
- Chịu áp lực là ngân hàng có trên 30% nguồn vốn từ TCTD khác (NamABank, SeABank, PGBank, MSB, TPBank, VPBank, VietBank) và ngân hàng có tài sản cấp 1 dưới 4% tổng tài sản (BacABank, SHB, VIB, NCB, VPBank).
Thông tư tạo nhu cầu mới cho trái phiếu doanh nghiệp có xếp hạng và niêm yết, nhưng nguồn cung đạt chuẩn hiện rất ít (mục 5.4).
HQLA (High-Quality Liquid Assets) là tài sản thanh khoản chất lượng cao. LCR đổi câu hỏi giám sát từ "ngân hàng có bao nhiêu tài sản thanh khoản so với tổng nợ" sang "ngân hàng có đủ tài sản bán được ngay để sống qua 30 ngày căng thẳng hay không".
Điểm kỹ thuật quan trọng nhất là trần dòng tiền vào: dòng vào chỉ được bù tối đa 75% dòng ra. Dòng tiền ra ròng vì vậy tối thiểu bằng 25% tổng dòng ra, và ngân hàng luôn phải giữ một lượng HQLA dù dòng tiền vào theo hợp đồng lớn đến đâu. Cách tính cũ không có sàn này.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
Cách đọc cột "So với quy định cũ" trong mục 5 và 6: Chặt hơn nghĩa là cùng một bảng cân đối thì tỷ lệ mới khó đạt hơn; Nới hơn là dễ đạt hơn; Giống là không đổi về kết quả.
5.1. Các cấp tài sản thanh khoản cao (HQLA) theo TT 50/2026 (Phụ lục I, Phần A)
LCR chia tài sản thanh khoản thành ba cấp: cấp 1, cấp 2A và cấp 2B. Cấp càng thấp thì giá trị được tính càng bị chiết giảm và tỷ trọng càng bị giới hạn. Các mục phía sau dùng cách gọi này.
Điều kiện chung: tài sản không bị ràng buộc, do bộ phận quản lý thanh khoản kiểm soát và có thể chuyển thành tiền trong 30 ngày căng thẳng. "Mức giảm giá tối đa" là mức giảm giá hoặc mức tăng chiết khấu lớn nhất trong một giai đoạn 30 ngày căng thẳng của thị trường, xét trên lịch sử 10 năm.
- Cấp 1 (tính 100%) là tiền và các tài sản gần như không có rủi ro tín dụng: tiền mặt, tiền gửi tại NHNN gồm cả dự trữ bắt buộc, trái phiếu Chính phủ và tín phiếu NHNN, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, và chứng khoán của chính phủ, ngân hàng trung ương nước ngoài có hệ số rủi ro 0%.
- Cấp 2A (tính 85%) là chứng khoán chất lượng cao nhưng không phải của Chính phủ Việt Nam: chứng khoán của chính phủ và tổ chức công lập nước ngoài có hệ số rủi ro tối đa 20%, và trái phiếu doanh nghiệp xếp hạng từ AA- trở lên. Phải niêm yết, không do tổ chức tài chính phát hành và có mức giảm giá tối đa không quá 10%.
- Cấp 2B (tính 50–75%) là tài sản vẫn bán được nhưng biến động giá lớn hơn: trái phiếu doanh nghiệp xếp hạng từ BBB- đến A+ (50%), cổ phiếu thuộc VN30 (50%) và chứng khoán bảo đảm bằng khoản vay thế chấp nhà ở xếp hạng từ AA (75%). Mức giảm giá tối đa không quá 20%.
Giới hạn cơ cấu: tài sản cấp 1 không bị giới hạn; tài sản cấp 2B tối đa 15% và toàn bộ tài sản cấp 2 tối đa 40% tổng giá trị HQLA đủ điều kiện. NHNN có quyền yêu cầu áp dụng hệ số thanh khoản thấp hơn nếu đánh giá tài sản không phản ánh đủ rủi ro thực tế.

5.2. Tử số: tài sản thanh khoản cao so với cách tính cũ
Nhận định: thay đổi lớn nhất ở tử số là tiền gửi tại TCTD khác không còn là tài sản thanh khoản. Với khoảng 3.691 nghìn tỷ đồng gửi và cho vay TCTD tại 27 ngân hàng niêm yết, một phần lớn "bộ đệm thanh khoản" theo cách tính cũ biến mất khỏi tử số và chỉ còn được tính là dòng tiền vào khi đến hạn trong 30 ngày, lại chịu trần 75%. Chúng tôi cho rằng nhu cầu nắm giữ trái phiếu Chính phủ, tín phiếu và trái phiếu doanh nghiệp của các ngân hàng sẽ tăng trong giai đoạn chuẩn bị áp dụng.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
5.3. Xếp hạng tín nhiệm và khả năng đạt chuẩn HQLA của trái phiếu trong nước
- Chỉ 6 trên 118 kết quả (5%) đạt nhóm AA, và cả 6 đều theo thang nội địa.
- Bốn trong sáu là tổ chức tài chính. HQLA cấp 2A loại trái phiếu do tổ chức tài chính phát hành, nên thực tế chỉ còn Vinhomes và CII.
- Trần quốc gia hiện rõ: bốn kết quả của Moody's chỉ ở Ba3 và B2. VIB và MSB được FiinRatings xếp A nhưng Moody's xếp Ba3.
- Các thang nội địa không thống nhất: Vinhomes được Saigon Ratings xếp vnAA nhưng FiinRatings xếp A, nằm ở hai phía của ngưỡng AA-; đây là điểm thông tư cần làm rõ. Có thể phần nào suy đoán từ TT 41/2016: khi khách hàng có từ hai thứ hạng trở lên của các tổ chức xếp hạng khác nhau, ngân hàng chỉ được dùng thứ hạng ứng với hệ số rủi ro cao nhất, tức hạng thấp nhất.

Thống kê 118 kết quả xếp hạng dài hạn mới nhất theo từng cặp tổ chức phát hành và tổ chức xếp hạng (114 tổ chức phát hành), từ 160 dòng công bố trên HNX. Hạng Moody's quy về ký hiệu tương đương; các thang không tương đương nhau. Bảng chi tiết theo tổ chức xếp hạng và danh sách tổ chức đạt từ AA- nằm ở Phụ lục.
5.4. Tử số trên số liệu thực tế: hẹp lại trước mắt, mở ra cho trái phiếu doanh nghiệp có xếp hạng
TT 50 làm hai việc cùng lúc với tử số. Một mặt loại tiền gửi liên ngân hàng và vàng. Mặt khác lần đầu công nhận trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu VN30 và chứng khoán bảo đảm bằng khoản vay thế chấp nhà ở là tài sản thanh khoản, với điều kiện có xếp hạng tín nhiệm và được niêm yết. Số liệu của 27 ngân hàng niêm yết tại 30/06/2026 cho thấy quy mô của từng chiều.
- Tài sản cấp 1 chỉ khoảng 1.472 nghìn tỷ đồng, tương đương 6,5% tổng tài sản. Gồm tiền mặt 88, tiền gửi tại NHNN 519 và chứng khoán nợ Chính phủ 864 nghìn tỷ. Nếu cộng cả 3.691 nghìn tỷ gửi và cho vay TCTD khác như cách nhìn cũ, con số là khoảng 22,8% tổng tài sản. Phần chênh lệch là lượng "thanh khoản" không còn được công nhận.
- Khoản nắm giữ lớn nhất ngoài cấp 1 lại không được tính. Các ngân hàng đang giữ 1.147 nghìn tỷ chứng khoán nợ do TCTD khác phát hành, gấp năm lần lượng trái phiếu của tổ chức kinh tế (230 nghìn tỷ). Trái phiếu do tổ chức tài chính phát hành bị loại khỏi cả cấp 2A và 2B, nên toàn bộ khoản này đứng ngoài HQLA.

Nguồn: WiData, bảng cân đối và thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026; FinSuccess tổng hợp. Tiền mặt gồm cả vàng do báo cáo không tách riêng.
- Trái phiếu doanh nghiệp đang nắm giữ còn nhỏ và tập trung. Tổng số dư 230 nghìn tỷ chỉ bằng khoảng 1% tổng tài sản của 27 ngân hàng. Techcombank giữ 102 nghìn tỷ (8,0% tổng tài sản), tiếp theo là HDBank 28, MB 26 và VPBank 22 nghìn tỷ; bốn ngân hàng này chiếm 78% toàn nhóm. Xét theo tỷ trọng, sau Techcombank là SeABank (3,0%) và HDBank (2,7%). Chín ngân hàng không có số dư. Phần lớn trái phiếu này chưa có xếp hạng đạt chuẩn nên hiện chưa được tính vào HQLA.
Dư địa theo quy định rất rộng. Với 1.472 nghìn tỷ tài sản cấp 1, trần cơ cấu cho phép tài sản cấp 2 sau chiết giảm lên tới khoảng 980 nghìn tỷ (40% tổng HQLA), trong đó cấp 2B tối đa khoảng 260 nghìn tỷ (15%). 260 nghìn tỷ sau hệ số 50% tương ứng khoảng 520 nghìn tỷ giá trị thị trường của trái phiếu hạng BBB- đến A+ và cổ phiếu VN30. Trần cơ cấu vì vậy chưa phải là giới hạn.

Nguồn: WiData, thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026 (chứng khoán kinh doanh, sẵn sàng để bán và giữ đến ngày đáo hạn); FinSuccess tổng hợp.
Giới hạn thật nằm ở nguồn cung. Trong khoảng 1.420 nghìn tỷ dư nợ trái phiếu doanh nghiệp, 705 nghìn tỷ do ngân hàng và công ty tài chính, chứng khoán phát hành nên không được tính. Phần của doanh nghiệp phi tài chính là 715 nghìn tỷ, trong đó bất động sản chiếm 420 nghìn tỷ. Số tổ chức có xếp hạng đạt chuẩn còn ít: trong 118 kết quả xếp hạng công bố trên HNX, chỉ 6 đạt nhóm AA (2 là doanh nghiệp phi tài chính), 59 đạt nhóm A và BBB, và nhiều trong số đó là tổ chức tài chính.
Nhận định. FinSuccess cho rằng TT 50 tạo ra một nhu cầu mới và có cấu trúc cho trái phiếu doanh nghiệp có xếp hạng, đồng thời biến xếp hạng tín nhiệm từ thủ tục công bố thành điều kiện để trái phiếu có giá trị thanh khoản với ngân hàng. Trái phiếu hạng AA- trở lên được tính 85% vào tử số LCR và chỉ cần 15% vốn ổn định trong NSFR, so với 50–85% của một khoản cho vay. Doanh nghiệp phát hành có xếp hạng cao vì vậy có thể huy động với lãi suất thấp hơn, và nhu cầu thuê xếp hạng sẽ tăng. Tuy nhiên quy mô trước mắt bị giới hạn bởi ba điểm:
- LDR vẫn phạt trái phiếu doanh nghiệp. Khoản đầu tư này bị trừ khỏi mẫu số D (mục 4.3). Ngân hàng chỉ thoát khỏi điểm trừ này khi đã đạt ngưỡng 100% cho cả LCR và NSFR và không còn phải tuân thủ LDR. Nhu cầu vì vậy sẽ đến trước từ nhóm ngân hàng đăng ký sớm ngưỡng 100%.
- Trái phiếu ngân hàng không được hưởng lợi. Đây là nhóm phát hành lớn nhất thị trường (651 nghìn tỷ) và cũng là khoản các ngân hàng nắm giữ chéo nhiều nhất. Cùng với việc loại chứng chỉ tiền gửi mua chéo khỏi D (mục 4.4), TT 50 làm giảm động lực giữ giấy tờ có giá của nhau.
- Điều kiện kèm theo xếp hạng. Trái phiếu phải niêm yết, không do tổ chức tài chính hay người có liên quan của ngân hàng phát hành, và có mức giảm giá tối đa trong giai đoạn căng thẳng không quá 10% (cấp 2A) hoặc 20% (cấp 2B). Thị trường thứ cấp còn mỏng nên điều kiện về mức giảm giá cần hướng dẫn cụ thể của NHNN.

Nguồn: WiData, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp cuối tháng 6/2026 (nguồn gốc HNX); FinSuccess tổng hợp.
5.5. Dòng tiền ra
Hai thông tư phân loại tiền gửi theo hai nguyên tắc khác nhau nên không so từng dòng được: TT 22/2019 phân theo sản phẩm và kỳ hạn; TT 50/2026 phân theo người gửi. Với TT 50, mỗi khoản tiền gửi đi qua hai bước: bước 1 xét kỳ hạn để biết có đưa vào tính hay không (Bảng A), bước 2 nhân với hệ số rút tiền của nhóm người gửi (Bảng B). Hai bảng không cộng dồn với nhau.
Bảng A. Bước 1: khoản tiền gửi nào được đưa vào tính (xét theo kỳ hạn)

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
Số liệu thực tế cho Bảng A. Thuyết minh rủi ro thanh khoản trong báo cáo tài chính cho biết tiền gửi khách hàng chia theo kỳ hạn còn lại. Phần "đến 1 tháng" (gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn đến hạn trong 30 ngày) là phần chắc chắn đi vào phép tính dòng tiền ra.
- Khoảng 27% tiền gửi khách hàng đến hạn trong 1 tháng, 16% trong 1–3 tháng và 44% trong 3–12 tháng. Tính trên tổng nợ phải trả, phần đến hạn trong 1 tháng là 35% vì tiền gửi và vay của TCTD khác chủ yếu có kỳ hạn rất ngắn.
- Chênh lệch giữa các ngân hàng rất lớn: từ 16% (VietABank, SeABank) đến 48% (Vietcombank). Ngân hàng có nhiều tiền gửi không kỳ hạn thì phần đưa vào tính càng lớn: Vietcombank có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn 32%, ACB 20%, MSB 22%.
- Kỳ hạn chưa phải là kết quả cuối cùng. Theo quy định cũ, phần đến hạn trong 30 ngày gần như được tính nguyên là dòng tiền ra. Theo TT 50, phần này còn được nhân với hệ số rút tiền theo người gửi ở Bảng B, nên ngân hàng có nhiều tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân không bị bất lợi như con số 48% gợi ý. Chiều ngược lại, 73% tiền gửi còn kỳ hạn trên 1 tháng chỉ được loại ra nếu khách không có quyền rút trước hạn hoặc rút trước hạn chỉ hưởng lãi không kỳ hạn.

Nguồn: WiData, thuyết minh rủi ro thanh khoản báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026; FinSuccess tổng hợp. 26 ngân hàng; không gồm VietinBank do số liệu thuyết minh trên nguồn chưa đủ tin cậy.
Bảng B. Bước 2 (chỉ có ở TT 50/2026): hệ số rút tiền theo người gửi. Mỗi khoản tiền gửi thuộc đúng một dòng. TT 22/2019 không có bước này vì không phân biệt người gửi.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
Số liệu thực tế cho Bảng B. Hệ số rút tiền phụ thuộc vào người gửi là ai, nên cơ cấu nguồn vốn theo nhóm người gửi quyết định mẫu số LCR. Biểu đồ dưới gộp tiền gửi khách hàng với tiền gửi và vay của TCTD khác và của Chính phủ, NHNN.
- Tại 22 ngân hàng có số liệu tách, cá nhân chiếm khoảng 50% nguồn vốn huy động, tổ chức kinh tế 23% và TCTD khác 25%. Áp hệ số Bảng B: nhóm cá nhân chỉ bị tính rút 5–10%, tổ chức kinh tế 25–40%, TCTD khác 100%.
- Nhóm được lợi nhất là các ngân hàng có trên 65% nguồn vốn từ cá nhân: NCB (79%), BacABank, KienlongBank, VietABank (71%), Sacombank và BVBank (66%).
- Nhóm chịu áp lực nhất là các ngân hàng có trên 30% nguồn vốn từ TCTD khác: NamABank (40%), SeABank (37%), PGBank (36%), MSB (34%), TPBank (33%), VPBank, VietBank (32%). Với các ngân hàng này, một phần ba nguồn vốn bị tính rút toàn bộ trong 30 ngày nếu đến hạn trong kỳ.

Nguồn: WiData, bảng cân đối và thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026; FinSuccess tổng hợp. Năm ngân hàng (BIDV, Vietcombank, HDBank, VietinBank, SHB) không có số tách cá nhân và tổ chức kinh tế trên nguồn.
Nhận định về Bảng C: các cam kết ngoại bảng được tính nhẹ hơn cách cũ. Hạn mức tín dụng và hạn mức thanh khoản chưa sử dụng chỉ tính 5–40% tùy đối tượng; tài trợ thương mại và bảo lãnh tính 3–5%; cam kết hủy ngang vô điều kiện tính 0%. Chiều ngược lại, phái sinh và các khoản vay có bảo đảm bằng tài sản ngoài cấp 1 bị tính chặt hơn.
Bảng C. Nghĩa vụ khác ngoài tiền gửi

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
5.6. Dòng tiền vào
Nhận định: nợ vay đến hạn chỉ được tính 50% dòng tiền vào, vì thông tư giả định ngân hàng vẫn phải tiếp tục cho khách hàng vay lại để giữ quan hệ. Chứng khoán kinh doanh niêm yết không còn được coi là bán được ngay. Ngân hàng không thể dựa vào danh mục cho vay ngắn hạn hay danh mục chứng khoán để bù dòng tiền ra như cách tính cũ.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
6. NSFR: tài sản dài hạn phải đi cùng nguồn vốn ở lại lâu
NHẬN ĐỊNH CHÍNH
- NSFR hỏi tài sản khó thu hồi trong một năm có được tài trợ bằng nguồn vốn ở lại với ngân hàng trong một năm hay không. Tỷ lệ này thay cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (trần 30%) và mở rộng ra toàn bộ bảng cân đối cùng các cam kết ngoại bảng.
- Điểm nới: tiền gửi cá nhân kỳ hạn dưới 1 năm được tính 90–95% là vốn ổn định (cách cũ 40%); cho vay dài hạn chỉ cần 65–85% vốn ổn định (cách cũ 100%); trái phiếu Chính phủ chỉ cần 5%.
- Điểm thắt: cho vay ngắn hạn lần đầu phải có 50% vốn ổn định (52% dư nợ của 27 ngân hàng niêm yết là ngắn hạn); vốn vay tổ chức tài chính dưới 6 tháng được tính 0%; chứng khoán chưa đạt chuẩn HQLA cần 50–85%.
- Xét theo số liệu, điểm nới lớn hơn với ngân hàng bán lẻ. Minh họa theo cơ cấu toàn nhóm: trên 100 đồng dư nợ (52 đồng ngắn hạn, 48 đồng trung dài hạn), vốn ổn định cần có tăng từ 48 đồng lên khoảng 67 đồng. Đổi lại, 100 đồng tiền gửi cá nhân dưới 1 năm được tính 90–95 đồng thay vì 40 đồng. Ngân hàng có khoảng một nửa nguồn vốn từ cá nhân được thêm vốn ổn định nhiều hơn phần phải bổ sung; ngân hàng dựa vào vốn tổ chức tài chính ngắn hạn thì ngược lại.
- Thuận lợi là ngân hàng có nền vốn cá nhân lớn và cho vay ngắn hạn nhiều như VietABank, Sacombank, KienlongBank, ACB, BVBank, Eximbank.
Cần điều chỉnh nhiều hơn là ngân hàng cho vay trung dài hạn trên 55% dư nợ nhưng nguồn vốn ổn định thấp hơn trung vị như MSB, TPBank, VPBank, VIB.
NSFR trả lời câu hỏi dài hạn hơn LCR: tài sản khó thu hồi trong vòng một năm có được tài trợ bằng nguồn vốn ở lại với ngân hàng trong một năm hay không. Tỷ lệ cũ cũng nhằm mục đích này, nhưng chỉ nhìn kỳ hạn còn lại của khoản vay và khoản huy động. Trần của tỷ lệ cũ vừa được nới từ 30% lên 40% từ 01/07/2026 (TT 25/2026), tạo bước đệm trước khi chuyển sang NSFR.
6.1. Khung quy định
Viết về cùng dạng cho thấy tỷ lệ cũ thực chất là một phiên bản NSFR rút gọn với chỉ hai hệ số: nguồn vốn trên 1 năm tính 100%, nguồn vốn đến 1 năm tính 40%; tài sản trên 1 năm cần 100% vốn ổn định, tài sản đến 1 năm cần 0%. Hai bảng dưới đây so từng khoản mục theo cách nhìn đó.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
6.2. Phía nguồn vốn: hệ số ASF so với cách tính cũ
Nhận định: NSFR thừa nhận một thực tế mà cách tính cũ bỏ qua: tiền gửi dân cư kỳ hạn ngắn trên thực tế rất ổn định vì được quay vòng. Hệ số 90–95% so với 40% trước đây là mức nới rất lớn cho ngân hàng bán lẻ. Ngược lại, vốn vay tổ chức tài chính còn dưới 6 tháng bị coi là không ổn định (0%). Ngân hàng dựa vào thị trường 2 phải kéo dài kỳ hạn vay lên từ 6 tháng hoặc từ 1 năm, hoặc phát hành trái phiếu dài hạn. Lưu ý trái phiếu thường giúp NSFR nhưng không được tính vào D của LDR, nên trái phiếu Vốn cấp 2 và trái phiếu quốc tế là lựa chọn giúp được cả hai tỷ lệ.
Cột TT 22/2019 ghi tỷ trọng ngầm định: 100% nếu thời hạn còn lại trên 1 năm, 40% nếu đến 1 năm (kể cả không kỳ hạn). Cột TT 50/2026 ghi hệ số ASF theo thứ tự: không kỳ hạn / dưới 6 tháng / 6 tháng đến dưới 1 năm / từ 1 năm.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
6.3. Phía tài sản: hệ số RSF so với cách tính cũ
Nhận định: phía tài sản đảo chiều so với cách tính cũ. Cho vay dài hạn từng phải được tài trợ 100% bằng vốn dài hạn (hoặc trong hạn mức 40% vốn ngắn hạn), nay chỉ cần 65–85%; cho vay mua nhà và các khoản có hệ số rủi ro thấp được ưu đãi nhất. Cho vay ngắn hạn từng không đòi hỏi gì, nay cần 50% vốn ổn định. Mô hình cho vay doanh nghiệp ngắn hạn quay vòng quy mô lớn, tài trợ bằng vốn bán buôn, chịu tác động rõ nhất.
Cột TT 22/2019 ghi mức vốn ổn định ngầm định: 100% nếu là khoản mục được tính và thời hạn còn lại trên 1 năm, 0% nếu đến 1 năm hoặc không thuộc phạm vi. Cột TT 50/2026 ghi hệ số RSF theo thứ tự: dưới 6 tháng / 6 tháng đến dưới 1 năm / từ 1 năm.

Nguồn văn bản (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ): Thông tư 50/2026/TT-NHNN; Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN). Điều khoản dẫn chiếu ghi ở tiêu đề cột hoặc trong bảng.
6.4. NSFR trên số liệu thực tế: cơ cấu dư nợ và nguồn vốn ổn định
Báo cáo tài chính chưa đủ chi tiết để tính NSFR chính xác cho từng ngân hàng. Hai nhóm số liệu dưới đây cho biết ngân hàng nào đang đứng ở vị trí thuận lợi hơn.
- Toàn nhóm: 52% dư nợ là ngắn hạn, 14% trung hạn và 33% dài hạn. Theo quy định cũ, phần ngắn hạn không cần vốn trung dài hạn; theo NSFR phần này cần 50% vốn ổn định. Phần dài hạn giảm yêu cầu từ 100% xuống 65–85%.
- Nhóm cho vay ngắn hạn nhiều (trên 60% dư nợ: VietABank, Saigonbank, ABBank, VietBank, VietinBank, ACB, PGBank, BVBank, BIDV, Sacombank) trước đây gần như không bị tỷ lệ cũ ràng buộc, nay phải dành vốn ổn định cho một nửa dư nợ ngắn hạn.
- Nhóm cho vay trung dài hạn nhiều (trên 60% dư nợ: NCB, OCB, SHB, TPBank, Techcombank, VPBank, MSB) được giảm yêu cầu trên từng đồng cho vay dài hạn. Khoản vay thế chấp nhà ở có hệ số rủi ro thấp chỉ cần 65%.

Nguồn: WiData, thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026; FinSuccess tổng hợp. Kỳ hạn theo hợp đồng gốc, chưa phải kỳ hạn còn lại.
- Trục dọc là phần nguồn vốn được NSFR tính ở mức 90–100%. Trung vị là 56% tổng tài sản; khoảng dao động từ 37% (MSB) đến trên 70% (KienlongBank, BacABank, NCB).
- Góc trên bên trái (thuận lợi nhất): VietABank, Sacombank, KienlongBank, ACB, BVBank, Saigonbank, Eximbank có vốn ổn định trên trung vị và cho vay trung dài hạn dưới trung vị.
- Góc dưới bên phải (cần điều chỉnh nhiều nhất): MSB, TPBank, VPBank, VIB có vốn ổn định dưới trung vị trong khi cho vay trung dài hạn chiếm 59–65% dư nợ. OCB và MB nằm sát nhóm này.
- Techcombank là trường hợp riêng: cho vay trung dài hạn 63% nhưng vốn ổn định 61% tổng tài sản nhờ vốn chủ sở hữu 15% và 12% từ giấy tờ có giá dài hạn.
- Phát hành giấy tờ có giá dài hạn là công cụ điều chỉnh chính. 27 ngân hàng đang có khoảng 1.100 nghìn tỷ giấy tờ có giá kỳ hạn trên 1 năm và 880 nghìn tỷ kỳ hạn dưới 12 tháng. Phần ngắn hạn do tổ chức tài chính nắm giữ không giúp NSFR, nên xu hướng sẽ là kéo dài kỳ hạn phát hành.
Biểu đồ chỉ cho vị trí tương đối. Nó chưa tính tiền gửi tổ chức kinh tế (được tính 50%), kỳ hạn còn lại của khoản vay, chứng khoán đầu tư và các cam kết ngoại bảng, nên không dùng để kết luận ngân hàng nào đạt hay không đạt NSFR.

Nguồn: WiData; FinSuccess tính toán. Nguồn vốn ổn định nhất gồm vốn chủ sở hữu, tiền gửi cá nhân và giấy tờ có giá kỳ hạn gốc trên 1 năm. 22 ngân hàng có số liệu tách tiền gửi cá nhân; đường nét đứt là trung vị.
7. Ba tỷ lệ tương tác: tiền gửi cá nhân là nguồn vốn duy nhất tốt cho cả ba
NHẬN ĐỊNH CHÍNH
- Ba tỷ lệ không chấm điểm một khoản mục theo cùng một chiều. LDR coi mọi đồng tiền gửi của tổ chức như nhau; LCR và NSFR phân biệt mạnh theo người gửi và kỳ hạn.
- Tỷ lệ chặn trước tùy mô hình ngân hàng. Ngân hàng dựa vào tiền gửi doanh nghiệp và tổ chức tài chính sẽ chạm LCR trước LDR; ngân hàng bán lẻ thuần chạm LDR trước. Trong giai đoạn lộ trình, khi LCR mới ở 50–70%, LDR là ràng buộc chính với hầu hết ngân hàng.
- Tiền gửi cá nhân có kỳ hạn là nguồn vốn duy nhất tốt cho cả ba tỷ lệ, nên cạnh tranh huy động dân cư nhiều khả năng tăng lên và biên lãi chịu sức ép.
Muốn thoát trần LDR phải đổi cơ cấu huy động. Vốn liên ngân hàng ngắn hạn không giúp đạt LCR và NSFR 100%; con đường đi qua tiền gửi cá nhân và giấy tờ có giá dài hạn bán cho nhà đầu tư ngoài ngân hàng. Nút thắt là sức mua của nhóm nhà đầu tư này.
Những khoản cả ba tỷ lệ cùng thưởng: tiền gửi dân cư (tính đủ vào D, rút 5–10%, ổn định 90–95%); vay nước ngoài và trái phiếu quốc tế từ 1 năm; trái phiếu Vốn cấp 2 và vốn chủ sở hữu; trái phiếu Chính phủ ở phía tài sản. Đây cũng là những thứ mọi ngân hàng sẽ cùng tranh giành.

Tỷ lệ nào chặn trước. Minh họa trên mỗi 100 đồng huy động, với LCR ở ngưỡng 100% và chưa xét dòng tiền vào:
- LDR 95% chỉ là ràng buộc thật với ngân hàng thuần bán lẻ. Ngân hàng dựa vào tiền gửi doanh nghiệp sẽ bị LCR chặn từ trước khi chạm 95%.
- Trong giai đoạn lộ trình thì ngược lại. Khi LCR mới ở 50–70%, yêu cầu HQLA giảm tương ứng và LDR là ràng buộc chính. Đây là lý do LDR được giữ làm lớp chắn tạm cho tới khi LCR đạt 100%.
- Cái giá là biên lợi nhuận. Cấu trúc dễ đạt cả ba tỷ lệ nhất là huy động dân cư kỳ hạn dài và nắm trái phiếu Chính phủ, cũng là cấu trúc có biên lãi mỏng nhất. Thông tư buộc ngân hàng trả chi phí cho sự an toàn, đúng với tinh thần tăng trưởng thực chất.

Tình huống: ngân hàng muốn thoát trần LDR thì huy động vốn từ đâu
Động lực đăng ký sớm ngưỡng 100% mạnh nhất ở nhóm ngân hàng giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp, vì khoản đầu tư này bị trừ khỏi mẫu số D. Nhưng để được miễn LDR, ngân hàng phải đạt 100% cho cả LCR và NSFR, và cách huy động vốn quen thuộc qua thị trường liên ngân hàng không giúp được việc đó.
- Lý do ngân hàng khác ít muốn cấp vốn không nằm ở việc họ đã đạt ngưỡng 100% hay chưa. Khoản cho vay hoặc giấy tờ có giá của một ngân hàng khác là tài sản kém trong cả ba tỷ lệ của bên nắm giữ, bất kể họ đang ở lộ trình nào.
- Chính ngân hàng đi huy động cũng không được lợi từ vốn liên ngân hàng ngắn hạn. Nguồn này không cải thiện LCR hay NSFR, nên không đưa ngân hàng tới ngưỡng 100%. Con đường thoát LDR đi qua tiền gửi cá nhân và giấy tờ có giá dài hạn bán cho nhà đầu tư ngoài ngân hàng.
- Danh mục trái phiếu doanh nghiệp tạo ra thế giằng co. Trái phiếu chưa đạt chuẩn HQLA cần 50–85% vốn ổn định trong NSFR. Khoản mục khiến ngân hàng muốn thoát LDR nhất cũng là khoản mục làm việc đạt NSFR 100% khó hơn. Ngân hàng có ba lựa chọn: tăng vốn ổn định, đưa trái phiếu đi xếp hạng và niêm yết để đạt chuẩn HQLA, hoặc giảm quy mô danh mục.
- Nút thắt là sức mua của nhà đầu tư ngoài ngân hàng. 27 ngân hàng niêm yết đang có khoảng 1.100 nghìn tỷ giấy tờ có giá kỳ hạn trên 1 năm, trong khi các ngân hàng đang giữ của nhau 1.147 nghìn tỷ chứng khoán nợ. Khi ngân hàng giảm nắm giữ chéo, phần này phải được bảo hiểm, quỹ đầu tư và khách hàng cá nhân hấp thụ. Ngân hàng có kênh phân phối trái phiếu cho cá nhân qua công ty chứng khoán trong hệ thống có lợi thế.
Tình huống này là suy luận của FinSuccess từ hệ số trong thông tư và số liệu quý 2/2026, chưa phải diễn biến đã quan sát được trên thị trường. Nguồn không có số liệu về cơ cấu người nắm giữ giấy tờ có giá của từng ngân hàng.

8. Ai hưởng lợi: ngân hàng bán lẻ, vốn dày và thị trường trái phiếu có xếp hạng
NHẬN ĐỊNH CHÍNH
- Ngân hàng hưởng lợi rõ nhất là nhóm có nền tiền gửi cá nhân lớn, vốn chủ sở hữu dày và nhiều tài sản cấp 1. Ba yếu tố này cải thiện cả LDR, LCR và NSFR.
- Ngân hàng chịu áp lực là nhóm dựa vào vốn của TCTD khác, tài sản cấp 1 mỏng, hoặc cho vay dài hạn nhiều trên nền vốn ổn định thấp. Một ngân hàng có thể mạnh ở tiêu chí này và yếu ở tiêu chí khác.
- Ngoài ngân hàng: công ty chứng khoán có mảng tư vấn phát hành trái phiếu, tổ chức xếp hạng tín nhiệm và doanh nghiệp phát hành có tín nhiệm cao là các nhóm có thêm nhu cầu từ TT 50.
Phần này là nhận định của FinSuccess từ số liệu quý 2/2026, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán.
8.1. Nhóm ngân hàng
Nhận định: không ngân hàng nào đứng trọn ở một phía. Techcombank có vốn chủ sở hữu dày, tài sản cấp 1 cao và mảng ngân hàng đầu tư mạnh, nhưng cũng giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp nhất. VPBank có vốn chủ sở hữu dày nhưng dựa nhiều vào vốn liên ngân hàng và có tài sản cấp 1 mỏng. MSB có tài sản cấp 1 cao nhất nhóm nhưng nền vốn cá nhân thấp nhất. Nhóm ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, BIDV, VietinBank) không có số liệu tách tiền gửi cá nhân trên nguồn nên chưa xếp được vào bảng ở tiêu chí này; các ngân hàng này là bên cho vay ròng lớn nhất trên thị trường liên ngân hàng.

8.2. Các ngành và nhóm khác
Nhận định: tác động lớn nhất ngoài ngân hàng nằm ở cấu trúc thị trường trái phiếu. 90% giá trị phát hành hiện là riêng lẻ và 60% do ngân hàng phát hành, tức phần lớn thị trường đang ở dạng mà TT 50 không khuyến khích ngân hàng nắm giữ. Phần được khuyến khích (phát hành ra công chúng, có xếp hạng, của doanh nghiệp phi tài chính) hiện nhỏ, nên dư địa tăng trưởng cho hoạt động tư vấn phát hành và xếp hạng tín nhiệm là đáng kể. Tốc độ chuyển dịch phụ thuộc vào việc bao nhiêu ngân hàng đăng ký sớm ngưỡng 100% và thoát được điểm trừ của LDR với trái phiếu doanh nghiệp.

Nguồn: WiData (số liệu phát hành và dư nợ trái phiếu doanh nghiệp, nguồn gốc HNX), báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026; FinSuccess tổng hợp. Số liệu về tổ chức tư vấn phát hành trên nguồn chưa đủ để xếp hạng thị phần từng công ty chứng khoán; các công ty chứng khoán nêu trong bảng 8.1 là công ty con hoặc công ty liên kết của ngân hàng, nêu để minh họa.
9. Lưu ý và nguồn
Văn bản gốc trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: Thông tư 50/2026/TT-NHNN · Thông tư 22/2019/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất 83/VBHN-NHNN) · Thông tư 22/2019/TT-NHNN · Thông tư 26/2022/TT-NHNN · Thông tư 25/2026/TT-NHNN
- Phân tích dựa trên bản sao y TT 50/2026/TT-NHNN ngày 30/09/2026 và các văn bản: TT 22/2019, TT 26/2022, TT 09/2024, TT 08/2026, TT 25/2026, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 và Luật sửa đổi số 96/2025/QH15.
- Một số nội dung là cách hiểu của FinSuccess từ câu chữ thông tư và cần chờ hướng dẫn hoặc biểu mẫu báo cáo của NHNN: việc xếp chứng chỉ tiền gửi vào tiền gửi khi tính LDR; cách áp dụng giới hạn cấp tín dụng với khoản mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ L/C; việc chấp nhận xếp hạng tín nhiệm theo thang nội địa khi xác định HQLA (theo TT 14/2025).
- Cột "So với quy định cũ" và các đoạn nhận định là đánh giá của FinSuccess, không phải nội dung thông tư.
- Phân tích có sử dụng hỗ trợ của AI
- Số liệu ngân hàng: WiData, báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026 của 27 ngân hàng niêm yết; các ước tính ở mục 4.6, 5.4, 5.5, 6.4 và 8 là ước tính thô. Số liệu xếp hạng tín nhiệm: công bố trên HNX.
- Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: tài liệu này do FinSuccess soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin và nghiên cứu, không thay thế văn bản pháp luật, không phải tư vấn pháp lý và không phải khuyến nghị mua, bán hay nắm giữ bất kỳ chứng khoán nào. Việc nêu tên ngân hàng, doanh nghiệp là để minh họa số liệu, không hàm ý đánh giá về triển vọng giá cổ phiếu. Số liệu lấy từ nguồn được cho là đáng tin cậy nhưng FinSuccess không bảo đảm tính đầy đủ và chính xác tuyệt đối; các ước tính có thể thay đổi khi có hướng dẫn của NHNN hoặc số liệu mới. Người đọc tự chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư của mình.
Phụ lục: bảng thống kê bổ sung
Bảng thống kê chi tiết được dẫn trong bài.
Phụ lục – 5.3. Xếp hạng tín nhiệm và khả năng đạt chuẩn HQLA của trái phiếu trong nước

